FPT đề xuất giải pháp công nghệ đồng hành cùng Quảng Trị giải bài toán phát triển du lịch
Tại hội thảo “Công nghệ số thúc đẩy phát triển kinh tế Quảng Trị”, đại diện FPT đề xuất mô hình nền tảng số du lịch thông minh “Một lõi dữ liệu – Nhiều phân hệ chuyên biệt”, hướng đến giải quyết những bài toán thực tiễn của địa phương trong vận hành điểm đến, phân phối sản phẩm và nâng cao trải nghiệm du khách, qua đó góp phần kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng giá trị kinh tế từ tài nguyên du lịch.
Hội thảo do Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo – Bộ Khoa học và Công nghệ và Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA) tổ chức, với sự phối hợp của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị, nhằm kết nối nhu cầu thực tiễn của địa phương với năng lực và giải pháp của các doanh nghiệp công nghệ số. Sự kiện tập trung vào hai lĩnh vực trọng tâm là kinh tế cửa khẩu, logistics và du lịch, trong định hướng mở rộng không gian phát triển trên Hành lang kinh tế Đông – Tây.
Toàn cảnh buổi hội thảo “Công nghệ số thúc đẩy phát triển kinh tế Quảng Trị”
Tại phiên 2 “Du lịch Quảng Trị: Từ giá trị di sản đến giá trị kinh tế”, bà Lê Ngọc Ánh, Giám đốc kinh doanh Trung tâm akaVerse, Khối Chính phủ FPT IS, Tập đoàn FPT, trình bày bài chia sẻ với chủ đề “Nền tảng số cho du lịch thông minh: Tối ưu vận hành, phân phối và trải nghiệm du khách”. Nội dung tập trung phân tích những điểm nghẽn trong phát triển du lịch của tỉnh và đề xuất mô hình công nghệ có thể tham khảo khi triển khai nhiệm vụ xây dựng nền tảng du lịch thông minh giai đoạn 2026 – 2027 theo Kế hoạch số 3380/KH-UBND ngày 10/7/2026.
Sự kiện tập trung vào hai lĩnh vực trọng tâm là kinh tế cửa khẩu, logistics và du lịch
Theo số liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, năm 2025, địa phương đón gần 9,6 triệu lượt khách, tổng thu từ khách du lịch đạt trên 11.040 tỷ đồng. Trong 9 tháng năm 2026, lượng khách ước đạt hơn 8,4 triệu lượt, tăng 17,7% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 9.679 tỷ đồng, tăng 35%. Đà tăng trưởng này cho thấy dư địa để Quảng Trị tiếp tục gia tăng giá trị du lịch thông qua việc nâng cao mức chi tiêu và kéo dài thời gian lưu trú. Theo phân tích của chuyên gia FPT, công nghệ số có thể góp phần kết nối thông tin, sản phẩm và dịch vụ, giúp du khách khám phá thêm điểm đến và có thêm lựa chọn cho hành trình tại địa phương.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, FPT đề xuất mô hình “Một lõi dữ liệu – Nhiều phân hệ chuyên biệt”, lấy cơ sở dữ liệu du lịch dùng chung làm nền tảng, từ đó cung cấp thông tin và dịch vụ phù hợp với từng nhóm người dùng thông qua các kênh họ đang sử dụng. Thay vì xây dựng một ứng dụng du lịch riêng yêu cầu cài đặt, mô hình hướng đến khả năng tiếp cận qua cổng thông tin, trình duyệt, nền tảng nhắn tin, ứng dụng phục vụ người dân của tỉnh, công cụ tìm kiếm và trợ lý ảo. Thông tin được biên tập, quản lý tập trung và tái sử dụng trên nhiều phân hệ; đồng thời, nền tảng được thiết kế để liên thông với các nền tảng số dùng chung quốc gia, hạn chế đầu tư trùng lặp. Đề xuất của FPT cũng phù hợp với định hướng xây dựng Đề án “Chuyển đổi số và phát triển Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2026–2035, tầm nhìn đến năm 2045”, góp phần gắn ứng dụng công nghệ số với mục tiêu phát triển du lịch của địa phương.
Thứ nhất, tối ưu vận hành điểm đến thông qua dữ liệu tập trung. Nền tảng cung cấp thông tin thống nhất, cập nhật về tình trạng hoạt động, mật độ khách và sự kiện tại từng điểm đến. Doanh nghiệp có thể cập nhật thông tin dịch vụ, giá và ưu đãi qua cổng cộng tác, với nội dung được đầu mối của Sở kiểm duyệt trước khi công bố. Tại các điểm đến giới hạn sức chứa, nền tảng hỗ trợ hiển thị khung giờ, số lượng khách và tình trạng chỗ trống, kết nối với đơn vị vận hành được cấp phép. Mô hình cũng hướng đến hợp nhất các kênh thông tin du lịch, kết nối hệ thống vé điện tử, VNeID, bản đồ số của tỉnh và cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia. Khi xảy ra thiên tai, nền tảng ưu tiên hiển thị thông báo chính thức, tình trạng tuyến đường, điểm đến, thông tin tránh trú và đầu mối cứu hộ; việc mở cửa trở lại cần được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
Thứ hai, mở rộng phân phối sản phẩm, đưa hành trình du lịch Quảng Trị đến gần hơn với du khách. Thông qua lớp kết nối dữ liệu, thông tin điểm đến và sản phẩm có thể được phân phối trên nhiều kênh, đồng thời mở dữ liệu theo quy định để công cụ tìm kiếm và trợ lý ảo khai thác. Nền tảng hướng đến gợi ý hành trình nhiều ngày theo thời lượng chuyến đi, điểm xuất phát và sở thích; cung cấp dữ liệu để doanh nghiệp lữ hành và nền tảng đặt dịch vụ xây dựng sản phẩm gắn với lưu trú tại Quảng Trị. Với khách đường bộ trên Hành lang kinh tế Đông – Tây, mô hình đề xuất phân hệ tiếng Thái, cung cấp thông tin về thủ tục qua cửa khẩu, tuyến đường liên quốc gia và bản đồ hành trình xuyên biên giới, hỗ trợ kết nối điểm tham quan với dịch vụ lưu trú và các sản phẩm địa phương. Các chức năng đặt phòng, bán vé, thanh toán và gian hàng đặc sản sẽ do doanh nghiệp đầu tư, vận hành và kết nối theo cơ chế xã hội hóa.
Thứ ba, nâng cao trải nghiệm theo từng nhóm khách, khuyến khích kéo dài thời gian lưu trú. Các phân hệ chuyên biệt được thiết kế theo nhu cầu: hỗ trợ khách về nguồn, tri ân tra cứu chỉ dẫn và đăng ký viếng theo đoàn; cung cấp lịch lễ, cảnh báo đông người cho khách hành hương; giúp khách quốc tế đối chiếu tư liệu chiến tranh với cảnh quan hiện tại tại Vĩ tuyến 17; hỗ trợ khách du lịch mạo hiểm đăng ký hành trình, nhận cảnh báo an toàn và tra cứu thông tin ngoại tuyến. Bên cạnh đó, hộ chiếu điểm đến số cho phép du khách quét mã tại điểm tham quan để nhận dấu số, tích điểm theo bộ sưu tập chủ đề và đổi ưu đãi từ doanh nghiệp tham gia. Cơ chế này có thể kết nối các trải nghiệm thành hành trình nhiều ngày, chẳng hạn tham quan buổi tối tại Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải và Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn kết hợp lưu trú tại khu vực, đồng thời tăng điểm thưởng vào mùa thấp điểm. Trợ lý ảo sẽ khai thác kho dữ liệu đã được tỉnh kiểm duyệt nhằm bảo đảm thông tin có nguồn rõ ràng.
Để đánh giá hiệu quả, FPT đề xuất thí điểm tại cụm di sản Hiền Lương – Vịnh Mốc – Thành cổ, tập trung đo lường tỷ lệ khách nghỉ đêm, số đêm lưu trú và mức chi tiêu bình quân. Nguồn dữ liệu có thể gồm số liệu tổng hợp về thông báo lưu trú trên cơ sở phối hợp với Công an tỉnh, số liệu bán vé tại các điểm có thu phí và khảo sát du khách. Kết quả trước và sau thí điểm sẽ được so sánh với các điểm đến chưa áp dụng, có tính đến sai số, nhằm ước tính giá trị tăng thêm trực tiếp từ du lịch di sản. Hiệu quả triển khai cũng phụ thuộc vào sự tham gia của doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và các đơn vị liên quan.
Từ mô hình đề xuất, FPT gợi mở việc nghiên cứu triển khai nền tảng dữ liệu du lịch dùng chung, kết nối với các nền tảng số quốc gia và hạn chế đầu tư trùng lặp. Việc thí điểm tại cụm di sản Hiền Lương – Vịnh Mốc – Thành cổ có thể gắn với nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm đo lường thay đổi về thời gian lưu trú, mức chi tiêu và giá trị kinh tế từ du lịch di sản. Theo định hướng của mô hình, nền tảng và dữ liệu hình thành trong quá trình vận hành thuộc sở hữu của tỉnh; việc xử lý dữ liệu cá nhân của du khách phải tuân thủ quy định pháp luật.
Với kinh nghiệm triển khai các giải pháp chuyển đổi số cho khối chính phủ, FPT mong muốn phát huy năng lực công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn để đồng hành cùng Quảng Trị trong quá trình nghiên cứu, hiện thực hóa các định hướng chuyển đổi số, gắn việc ứng dụng công nghệ với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch của địa phương. Trong mô hình được đề xuất cho Quảng Trị, trọng tâm không chỉ là xây dựng nền tảng công nghệ mà còn là tổ chức dữ liệu dùng chung, kết nối các hệ thống hiện có, thiết kế dịch vụ theo nhu cầu người dùng và xây dựng phương pháp đo lường hiệu quả. Cách tiếp cận này hướng đến việc giúp tỉnh chủ động quản lý dữ liệu, phát huy nguồn lực sẵn có và từng bước mở rộng các dịch vụ số theo nhu cầu thực tế.
FPT mong muốn đồng hành cùng Quảng Trị trong việc nghiên cứu các giải pháp công nghệ gắn với mục tiêu phát triển du lịch của địa phương
Thông qua nội dung chia sẻ, FPT mong muốn đồng hành cùng Quảng Trị trong việc nghiên cứu các giải pháp công nghệ gắn với mục tiêu phát triển du lịch của địa phương. Việc kết nối dữ liệu, doanh nghiệp và trải nghiệm du khách trên cùng một mô hình có thể tạo thêm điều kiện để phát huy giá trị di sản, đa dạng hóa sản phẩm và gia tăng giá trị trên mỗi hành trình, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch bền vững.


